23

ÁNH SÁNG CHÁNH NIỆM

Trong một ngày, thời gian trên chiếc đồng hồ chỉ 2 giờ sáng, bất chợt, tôi thức giấc. Tôi cảm nhận thấy một luồng khói màu đen lan rộng. Lúc ấy, bỗng dưng trong đám khói đen mờ đó tỏa ra một thứ ánh sáng. Tôi gọi đó là ánh sáng của chánh niệm. Ánh sáng này ban đầu còn yếu ớt, nó chưa đủ sức làm cho luồng khói đen kia nhạt dần. Rồi cùng với thời gian chiếu sáng, bóng đen nhạt dần rồi sáng rõ lên.

Thứ ánh sáng chánh niệm ấy mà tôi đang từng ngày trao đi. Nó tới tay của nhiều con người mà tôi có nhân duyên gặp gỡ. Nó tới bên trong một người em, tới trái tim một người chị, tỏa rạng trong bóng đêm của một người anh đang bị trầm cảm. Ánh sáng ấy được thắp lên trong mỗi nhân viên đang làm những công việc thường ngày của họ tại doanh nghiệp.

Và rồi những ngọn nến ấy, từng chút một làm sáng rõ cả một vùng nhận thức.

Trong đêm đen của lối sống thất niệm, kéo theo những hệ lụy về sức khỏe, những lệch lạc và sự phóng túng, ánh sáng chánh niệm được thắp lên và dẫn lối. Bỗng dưng mọi chuyện xung quanh tôi trở nên dễ hiểu. Khi ánh sáng chánh niệm ấy soi chiếu vào vùng nào, vùng ấy lập tức sáng tỏ.

Lúc đó, chánh niệm không còn là một ngôn từ. Lúc đó, nó chỉ là thứ ánh sáng làm rõ ràng hơn những gì nó chiếu soi. Người luyện rèn ánh sáng này không còn nhìn thấy nguồn sáng diệu. Họ nhìn thấy những vùng mà ánh sáng chánh niệm chiếu ra sáng tỏ. Và tôi hiểu rằng, chánh niệm là cuộc sống, là con người. Khi ánh sáng chánh niệm soi chiếu, tôi nhìn thấy những gì mà người khác đang thực hiện trách nhiệm của họ.

Rồi chợt thấy bảng lảng, bàng bạc một sắc màu chánh niệm len lỏi vào ngõ ngách của tâm hồn và cuộc sống của tôi. Những hình ảnh chiếc bàn trong không gian văn phòng ngày một hiện ra rõ nét. Tôi thấy mình giảng dạy chánh niệm trong không gian ấy một cách thảnh thơi. Tôi nhận ra sự chừng mực và buông lỏng. Càng buông lỏng, mỗi người càng có khả năng hiểu rõ mọi việc cũng như càng buông lỏng mọi người càng nhìn nhận rõ bức tranh rộng lớn trong cuộc sống của mình. Nó không bị thu hút vào chi tiết hoặc sự hứng thú cá nhân nữa.

Khi thất niệm, mình dễ dàng cảm thấy thỏa mãn với những gì đầy thu hút như tên gọi của nó: sự độc đáo, sự cá tính, sự nổi loạn. Nó phần nhiều hướng tới bản ngã tự nhiên.

Ta không còn cảm thấy biết ơn thực tâm tới những con người hiện diện trong đời sống của mình nữa: mẹ, cha, con cái, vợ chồng, hàng xóm v..v.. Ta cũng quên đi những gì họ có trong tâm hồn của họ. Bởi lúc ấy ta bận mải về những niềm vui, nỗi buồn và cảm hứng của riêng mình. Đối với tôi, những điều này vẫn có sức sống động của riêng nó nhưng không còn khuấy đảo lên trong tôi nhiều ý nghĩa. Tôi đã tìm được ý nghĩa trong cuộc sống của mình. Ý nghĩa sống này nằm trong việc tôi chạm vào nỗi buồn của con gái mình khi cháu phải tự lập từ rất sớm. Ý nghĩa sống này nằm trong việc tôi nhận ra một bạn thống kê trong phân xưởng của Nhà máy Nhôm Đô Thành, trong lúc chờ thống kê hàng hóa đã thực hành những bài tập giúp làm lưu thông khí huyết ở cổ. Ý nghĩa này nằm trong việc tôi hiểu được những ưu tiên trong cuộc sống của mỗi người. Ý nghĩa sống này làm cho tôi dám chạm vào sự trầm cảm của người khác với một sự định tâm.

Tôi đã mong ước là mình ít hoặc không còn gặp những con người bị trầm cảm nặng để hướng dẫn họ về chánh niệm. Tôi không mong muốn điều đó. Tôi mong muốn hướng dẫn chánh niệm cho những người vẫn còn có thể tập được những bài vận động chú tâm vào thân thể, hơi thở và thực hành chúng trong công việc và đời thường. Vì tôi nhận thấy tầm quan  trọng của việc hình thành một lối sống đúng đắn dù ban đầu thường chậm chạp và ít nhìn thấy kết quả nhưng tạo ra một sức ảnh hưởng tích cực và lâu bền tới một đời sống khỏe mạnh và chất lượng. Từ khi nhận ra điều này, tôi không còn cảm thấy tự hào là mình vừa có một học viên trầm cảm là người nổi tiếng hay thành đạt. Tôi không cảm thấy hạnh phúc để cầu tìm làm việc với một tâm hồn đã từng trải qua những ngày tháng dồn đuổi thành công mà trở thành thất thần, lạc mất ý nghĩa sống đích thức khiến họ khỏe mạnh.

Ngày mà tôi nhận ra ánh sáng chánh niệm ấy rọi vào trong nhận thức và đời sống của mình, tôi hiểu rằng mình sẽ đi theo những gì được dẫn dắt. Trong tôi trào dâng lòng biết ơn tới những người bạn, người thầy mà bằng sức ảnh hưởng trong năng lượng chánh niệm của họ đã giúp tôi hiểu những gì tôi đang làm. Tôi bắt tay vào đọc những cuốn sách về thiền chánh niệm một cách đầy say sưa và chú tâm tới nỗi tôi không còn thấy mình đang đọc sách nữa mà nó giống như một trạng thái lật giở lại những điều mình đã biết. Trong tôi lúc viết những dòng này hình ảnh về vị thiền sư Thích Nhất Hạnh hiển hiện rõ ràng. Cũng như sự say mê và có chút tinh quá khi áp dụng chánh niệm vào những đối tượng trầm cảm của John Kabat Zinn.

Và trên hết, tôi mong muốn ứng dụng chánh niệm vào việc nâng cao đời sống và sức khỏe của chính mình.

Thiền Cùng Hà cảm ơn bạn đã đọc bài viết này!

Show Comments

No Responses Yet

Leave a Reply